Hiển thị các bài đăng có nhãn Vắng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vắng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 20 tháng 1, 2016

Đêm buông rèm từ tán me xanh



​​​
Tôi được người quen giới thiệu đến nhà bà vào một chiều cuối tháng Tám, khi ánh nắng bàng bạc còn ngả nghiêng trượt dài trên những nhành cây mùa trút lá. Lúc ấy, tôi cần tìm nơi ở trọ, một nơi yên ắng và có tiếng chim.
Căn biệt thự của bà được xây theo kiến trúc thời Pháp. Trông cũ kỹ, cổ xưa, và lọt thỏm trong khu vườn rộng nên càng hư ảo, ma mị. Tôi không nghĩ còn một nơi hoang vắng đến rong rêu như thế ở thành phố này. Chiếc xích đu đã gỉ màu nằm giữa hai cây xoài lớn, cây me cổ thụ xanh mướt mát, cây khế không biết ngọt hay chua, đang độ ra hoa nên rụng đầy góc vắng. Những chậu lan không hoa được treo kiên cố trên bức tường bám đầy dương xỉ... Còn nhiều loài cây, giống cỏ mà tôi không biết tên. Chỉ biết, tất thảy mọi thứ nơi này đều toát lên sự bùi ngùi lãng quên nhưng lại nhớ nhung cố hữu... Tôi đã định quay bước đi, thật nhanh. Thế nhưng có điều gì đó khiến gót chân tôi ở lại. Hình như là tiếng lích chích của bầy sẻ đang nhảy nhót đâu đó trong vườn. Đây! Nơi yên ắng và có tiếng chim...
Bà ngồi trên ghế mây hình tròn, gọng kính mắt trễ xuống tận cánh mũi, hai tay đều đều đan len. Chú mèo mập ú ụ nằm ườn gối đầu lên đôi dép ngay dưới chân bà, thi thoảng giơ chân khều khều, vỗ vỗ cuộn len nhúc nhích theo dây len bà đan. Trên bàn nhỏ là chiếc radio cũ phát chương trình dân ca và nhạc cổ truyền. Tôi bước vào, còn chưa kịp chào đã nghe bà lên tiếng: “Mang cả giày vào đi con!” Tôi “Dạ!” nhanh và xỏ lại đôi giày vào chân mình, rồi bước về phía ghế mây, ngồi đối diện. Tôi nhìn thấy chút gần gụi, thương thương mà đơn lẻ ngấn lên nơi khóe mắt nhăn nheo của bà.
Bà bảo, bà đánh tiếng cho thuê phòng nhưng thật ra bà không cần tiền và không kinh doanh. Bà chỉ muốn có người ở cùng cho vui. Vậy là tôi dọn đến nhà bà. Đồ đạc không có gì nhiều, ngoài hai vali loại lớn, bên trong chứa những cuốn sách tôi thích nhất trong vài năm gần đây. Căn phòng bà dành cho tôi trên lầu 2, có nhiều cửa sổ, rèm bằng vải sô trước đây, màu tím lavender dịu dàng. Ngoài bancon có treo giỏ hoa mười giờ, giỏ dạ yến thảo, chậu cây sen đá nhỏ, vài khóm cúc bách nhật héo hon không được chăm chút, và chậu cây gì đó không có hoa, thân cây rủ xuống từng sợi xù bông, trông như mái tóc thường niên của đứa con gái hai tám tuổi là tôi. Tôi chợt bật cười với ý nghĩ về con chim sẻ tóc xù của nhạc sĩ Trần Tiến: “Ðừng tin những người không còn tình yêu/ Cuộc đời mà lại xót xa/ Thì sao cây táo nở hoa/ Thì sao giếng nước trong veo/ Sao con đường me xanh đến thế...”
Bà sống một mình như thế đã hơn hai mươi năm nay, kể từ ngày con gái duy nhất của bà theo chồng sang Anh định cư. Chồng chị cũng là người Việt nhưng anh chị đi để có môi trường làm việc và môi trường cho con cái phát triển tốt hơn. Bà thì không. Bà vẫn một mực muốn ở lại ngôi nhà này, bình yên những năm về bên kia con dốc cuộc đời.
Tôi không dám hỏi về người bạn đời của bà. Tôi không biết ông đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã qua đời. Trong nhà không có ảnh thờ, cũng không thấy kỷ vậy hay dấu ấn gì về một người đàn ông. Không biết bà có chồng hay không mà tôi chưa một lần nghe bà nhắc đến. Có lẽ mọi thứ về người ấy đã được bà gói ghém và cất sâu vào ngăn ký ức, phủ bụi đời thời gian rồi, nên bà không muốn khơi dậy?! Nhiều hôm đi làm về, tôi líu ríu gọi bà như chú chim non gọi mẹ, hớn hở, hồn nhiên. Không thấy bà lên tiếng như mọi khi. Tôi bước khẽ vào nhà, thấy bà đang ngồi đó, lặng yên, hiu hắt. Trên tay bà nắm chặt sợi dây chuyền bằng bạc. Bà ngồi thu mình trong chiếc ghế mây, hướng về cửa sổ nơi có khu vườn, để nước mắt héo hon rỉ ra từng giọt như sương đêm. Tôi ngồi xuống, bàn tay mảnh khảnh nắm chặt đôi bàn tay nhăn nheo, xương xương gầy gầy. Nghe xót xa len lén rủ nhau về từ những tán me xanh...
Bà ốm. Thân thể gầy mòn từng ngày. Tôi bón cháo, đút sữa, chăm sóc bà như người ruột thịt của mình. Đứa con gái đa cảm ngày nào cũng lén lút quay đi sụt sùi lau nước mắt. Tôi sợ, sợ một ngày bà ngủ mà quên không thức dậy giống bà ngoại của tôi. Sợ một buổi chiều đi làm về, nơi đất khách quê người, không có mẹ, không anh em, không họ hàng thân thích, tôi trở về với cô độc, không yêu thương, không nhìn thấy nụ cười hiền lành, bao dung của bà. Tôi rất sợ, sợ ngày gió lớn thổi tắt ngọn đèn dầu đang leo lét cháy trong trái tim mỏng mảnh của tôi.
Tôi viết mail thông báo cho con gái của bà biết tình hình sức khỏe của bà. Chị nhờ tôi chăm sóc bà và nói sẽ sắp xếp công việc để về sớm, đón bà sang Anh. Tôi nói với bà, bà chỉ im lặng. Hồi lâu, bà kéo tay tôi ngồi xuống, giọng bà run run: “Con gái, phải giữ lại một người đàn ông cho riêng mình, là của riêng mình thôi nhé. Con xứng đáng được hạnh phúc chở che. Đừng chọn cuộc sống cô quạnh như ta!” Tôi ngập ngừng: “Bà ơi, sao... Ông...” Hình như bà biết sớm muộn gì tôi cũng hỏi điều gì đấy về ông, không để tôi nói hết, bà chậm rãi: “Sinh ra làm phận đàn bà đã là đa đoan. Đàn bà đa cảm lại càng khổ hạnh. Cuộc đời bà là một chuỗi những truân chuyên và cô đơn cho đến cuối đời. Người ấy yêu thương và đến với bà khi đã là chồng người khác...”
Nói đoạn rồi bà ho sặc sụa, nước mắt chảy ròng ròng theo những cơn ho. Có lẽ, bà vừa tự cầm mũi kim đâm vào vết sẹo đã lành nhưng còn nguyên vết dấu. Tôi nghẹn đắng cổ họng. Nhìn ra góc vườn, những giỏ phong lan đợi chờ không một nụ hoa, chỉ có dương xỉ và rong rêu phủ đầy lên bức tường loang lổ. Đêm đang buông rèm từ những tán me xanh...
<Tạp bút của L.T.H.T
Viết tặng những nỗi đời đa đoan>