Tôi được người quen giới thiệu đến nhà
bà vào một chiều cuối tháng Tám, khi ánh nắng bàng bạc còn ngả nghiêng trượt
dài trên những nhành cây mùa trút lá. Lúc ấy, tôi cần tìm nơi ở trọ, một nơi yên
ắng và có tiếng chim.
Căn biệt thự của bà được xây theo kiến
trúc thời Pháp. Trông cũ kỹ, cổ xưa, và lọt thỏm trong khu vườn rộng nên càng
hư ảo, ma mị. Tôi không nghĩ còn một nơi hoang vắng đến rong rêu như thế ở thành
phố này. Chiếc xích đu đã gỉ màu nằm giữa hai cây xoài lớn, cây me cổ thụ xanh
mướt mát, cây khế không biết ngọt hay chua, đang độ ra hoa nên rụng đầy góc
vắng. Những chậu lan không hoa được treo kiên cố trên bức tường bám đầy dương
xỉ... Còn nhiều loài cây, giống cỏ mà tôi không biết tên. Chỉ biết, tất thảy
mọi thứ nơi này đều toát lên sự bùi ngùi lãng quên nhưng lại nhớ nhung cố
hữu... Tôi đã định quay bước đi, thật nhanh. Thế nhưng có điều gì đó khiến gót
chân tôi ở lại. Hình như là tiếng lích chích của bầy sẻ đang nhảy nhót đâu đó
trong vườn. Đây! Nơi yên ắng và có tiếng chim...
Bà ngồi trên ghế mây hình tròn, gọng
kính mắt trễ xuống tận cánh mũi, hai tay đều đều đan len. Chú mèo mập ú ụ nằm
ườn gối đầu lên đôi dép ngay dưới chân bà, thi thoảng giơ chân khều khều, vỗ vỗ
cuộn len nhúc nhích theo dây len bà đan. Trên bàn nhỏ là chiếc radio cũ phát
chương trình dân ca và nhạc cổ truyền. Tôi bước vào, còn chưa kịp chào đã nghe
bà lên tiếng: “Mang cả giày vào đi con!” Tôi “Dạ!” nhanh và xỏ lại đôi giày vào
chân mình, rồi bước về phía ghế mây, ngồi đối diện. Tôi nhìn thấy chút gần gụi,
thương thương mà đơn lẻ ngấn lên nơi khóe mắt nhăn nheo của bà.
Bà bảo, bà đánh tiếng cho thuê phòng
nhưng thật ra bà không cần tiền và không kinh doanh. Bà chỉ muốn có người ở
cùng cho vui. Vậy là tôi dọn đến nhà bà. Đồ đạc không có gì nhiều, ngoài hai
vali loại lớn, bên trong chứa những cuốn sách tôi thích nhất trong vài năm gần
đây. Căn phòng bà dành cho tôi trên lầu 2, có nhiều cửa sổ, rèm bằng vải sô
trước đây, màu tím lavender dịu dàng. Ngoài bancon có treo giỏ hoa mười giờ,
giỏ dạ yến thảo, chậu cây sen đá nhỏ, vài khóm cúc bách nhật héo hon không được
chăm chút, và chậu cây gì đó không có hoa, thân cây rủ xuống từng sợi xù bông,
trông như mái tóc thường niên của đứa con gái hai tám tuổi là tôi. Tôi chợt bật
cười với ý nghĩ về con chim sẻ tóc xù
của nhạc sĩ Trần Tiến: “Ðừng tin những người không còn tình yêu/ Cuộc đời mà
lại xót xa/ Thì sao cây táo nở hoa/ Thì sao giếng nước trong veo/ Sao con đường
me xanh đến thế...”
Bà sống một mình như thế đã hơn hai mươi
năm nay, kể từ ngày con gái duy nhất của bà theo chồng sang Anh định cư. Chồng
chị cũng là người Việt nhưng anh chị đi để có môi trường làm việc và môi trường
cho con cái phát triển tốt hơn. Bà thì không. Bà vẫn một mực muốn ở lại ngôi
nhà này, bình yên những năm về bên kia con dốc cuộc đời.
Tôi không dám hỏi về người bạn đời của
bà. Tôi không biết ông đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã qua đời. Trong nhà
không có ảnh thờ, cũng không thấy kỷ vậy hay dấu ấn gì về một người đàn ông.
Không biết bà có chồng hay không mà tôi chưa một lần nghe bà nhắc đến. Có lẽ
mọi thứ về người ấy đã được bà gói ghém và cất sâu vào ngăn ký ức, phủ bụi đời
thời gian rồi, nên bà không muốn khơi dậy?! Nhiều hôm đi làm về, tôi líu ríu
gọi bà như chú chim non gọi mẹ, hớn hở, hồn nhiên. Không thấy bà lên tiếng như
mọi khi. Tôi bước khẽ vào nhà, thấy bà đang ngồi đó, lặng yên, hiu hắt. Trên
tay bà nắm chặt sợi dây chuyền bằng bạc. Bà ngồi thu mình trong chiếc ghế mây,
hướng về cửa sổ nơi có khu vườn, để nước mắt héo hon rỉ ra từng giọt như sương
đêm. Tôi ngồi xuống, bàn tay mảnh khảnh nắm chặt đôi bàn tay nhăn nheo, xương xương
gầy gầy. Nghe xót xa len lén rủ nhau về từ những tán me xanh...
Bà ốm. Thân thể gầy mòn từng ngày. Tôi
bón cháo, đút sữa, chăm sóc bà như người ruột thịt của mình. Đứa con gái đa cảm
ngày nào cũng lén lút quay đi sụt sùi lau nước mắt. Tôi sợ, sợ một ngày bà ngủ
mà quên không thức dậy giống bà ngoại của tôi. Sợ một buổi chiều đi làm về, nơi
đất khách quê người, không có mẹ, không anh em, không họ hàng thân thích, tôi
trở về với cô độc, không yêu thương, không nhìn thấy nụ cười hiền lành, bao
dung của bà. Tôi rất sợ, sợ ngày gió lớn thổi tắt ngọn đèn dầu đang leo lét
cháy trong trái tim mỏng mảnh của tôi.
Tôi
viết mail thông báo cho con gái của
bà biết tình hình sức khỏe của bà. Chị nhờ tôi chăm sóc bà và nói sẽ sắp
xếp
công việc để về sớm, đón bà sang Anh. Tôi nói với bà, bà chỉ im lặng.
Hồi lâu,
bà kéo tay tôi ngồi xuống, giọng bà run run: “Con gái, phải giữ lại một
người
đàn ông cho riêng mình, là của riêng mình thôi nhé. Con xứng đáng được
hạnh phúc chở che. Đừng chọn cuộc
sống cô quạnh như ta!” Tôi ngập ngừng: “Bà ơi, sao... Ông...” Hình như
bà biết
sớm muộn gì tôi cũng hỏi điều gì đấy về ông, không để tôi nói hết, bà
chậm rãi:
“Sinh ra làm phận đàn bà đã là đa đoan. Đàn bà đa cảm lại càng khổ hạnh.
Cuộc
đời bà là một chuỗi những truân chuyên và cô đơn cho đến cuối đời. Người
ấy yêu thương và đến với bà khi đã là chồng người khác...”
Nói đoạn rồi bà ho sặc sụa, nước mắt
chảy ròng ròng theo những cơn ho. Có lẽ, bà vừa tự cầm mũi kim đâm vào vết sẹo
đã lành nhưng còn nguyên vết dấu. Tôi nghẹn đắng cổ họng. Nhìn ra góc vườn,
những giỏ phong lan đợi chờ không một nụ hoa, chỉ có dương xỉ và rong rêu phủ
đầy lên bức tường loang lổ. Đêm đang buông rèm từ những tán me xanh...
<Tạp bút của L.T.H.T
Viết tặng những nỗi đời đa đoan>